Trong bộ máy đồng hồ chân kính (Jewel) được xem là một trong những yếu tố quan trọng, có thể nói chúng là bí mật của sự hoạt động chính xác và độ bền cho chiếc đồng hồ cơ. Vậy chân kính là gì?

Chân kính là gì?
Chân kính đồng hồ hay còn gọi là Jewel là những viên đá quý như hồng ngọc, Ruby, Sapphire siêu nhỏ được đặt tại các điểm tiếp xúc chịu nhiều ma sát trong bộ máy. Chúng đóng vai trò cốt lõi trong việc giảm thiểu sự hao mòn, từ đó giúp đồng hồ vận hành trơn tru và chính xác.
Chúng thường được tiện, cắt gọt, đánh bóng, khoan lỗ và cắt trụng tùy thuộc vào loại hình gia công tương ứng, với kích thước nhỏ khoảng 2mm đường kính và độ dày không quá 0,5mm, chân kính mang lại sự tinh tế và chính xác đến từng chi tiết của đồng hồ.

Tác dụng chính của chân kính?
1.Giảm ma sát: Thay vì các chi tiết kim loại tiếp xúc và ma sát trực tiếp vào nhau, chúng sẽ tiếp xúc với chân kính có bề mặt trơn bóng và độ cứng cực cao.
2.Tăng tuổi thọ cho đồng hồ: Giúp bộ máy không bị bào mòn theo thời gian.
3. Tăng độ chính xác cao: Giảm năng lượng bị thất thoát do ma sát giúp đồng hồ chạy ổn định hơn
4. Chống sốc: Bảo vệ các trục bánh xe khỏi bị cong vênh, gãy khi đồng hồ bị va đập nhẹ.

Chất liệu tạo nên chân kính?
Ruby, Sapphire, Hồng ngọc, Kim Cương là các chất liệu được lựa chọn để chế tác ra Jewel bởi độ mài mòn thấp, có độ cứng và độ bền và có độ Mohs cao. (Độ cứng Mohs hay còn gọi là thang đo Mohs là hệ thống đánh giá độ cứng tương đối của các loại khoáng vật và đá quý dựa trên khả năng chống trầy xước. Khoáng vật có độ cứng lớn hơn sẽ làm trầy xước khoáng vật có độ cứng nhỏ hơn). Thang đo này do nhà khoáng vật học người Đức Friedrich Mohs phát minh vào năm 1812, chạy dọc từ thang điểm 1 (mềm nhất) đến 10 ( cứng nhất).
Độ Mohs của Kim cương: 10
Độ Mohs của Sapphire : 9 chỉ xếp sau Kim Cương.
Độ Mohs của Ruby: 9 cũng chỉ xếp sau Kim Cương.
Độ Mohs của Garnet: từ 6-7,5 đứng sau kim cương và Sapphire, Ruby nhưng có công dụng đáng kể trong chế tác.
Tuy nhiên từ năm 1900 đến nay nhiều loại vật liệu quý chỉ xuất hiện trên các mẫu đồng hồ đắt tiền. Còn đối với các dòng đồng hồ phổ thông đều dùng Sapphire và Ruby nhân tạo nhằm giảm chi phí sản xuất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và hiệu suất của sản phẩm.

Các loại chân kính phổ biến.
Dạng tròn có lỗ xuyên tâm (Hole Jewels) : Jewel hình tròn, dẹt, có khoan lỗ ở giữa. Chúng được dùng để gắn vào các trục bánh răng xoay có tốc độ quay nhỏ. Đặc biệt, không yêu cầu độ chính xác cao và có thể chịu áp lực từ mọi hướng vuông góc với trục quay. Kích thước của lỗ khoan sẽ thích hợp với kích thước của trục, đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ và ổn định.

Dạng tròn không có lỗ xuyên tâm (Cap Jewels): Có hình tròn, dẹt, ở giữa không khoan lỗ xuyên tâm hoặc không có lỗ. Thường sẽ đặt áp vào 2 đầu trục quay, nơi mà có độ sai số cao, vận tốc quay lớn, chịu ảnh hưởng nhiều bởi lực tác động dọc trục.
Dạng phiến, vuông chữ nhật (Pallet Jewels): Loại này có hình viên gạch thường gắn trên những điểm bị tác động, va đập theo chiều ngang như hai đầu ngựa, trượt cò khóa, bánh thoát.
Dạng con lăn (Roller Jewels) : Có hình dạng hình trụ, chỉ gắn trên bệ bánh lắc.
Dạng bảo vệ sốc (Shock Protection Jewels) : Đây là một tổ hợp chân kính được sử dụng trong đồng hồ nhằm ngăn chặn việc làm vỡ Jewel khi đồng hồ trải qua các cú sốc mạnh, đặc biệt là chúng không có hình dạng cụ thể.
Chân kính đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện độ chính xác, độ tin cậy của các lọa đồng hồ hiện đại, làm nổi bật cho sự kết hợp giữa truyền thống và sự đổi mới trong ngành công nghiệp đồng hồ ngày nay.



Gọi
